Lãi suất chiết khấu là gì & Làm thế nào để tính được lãi suất chiết khấu?

Thu gọn
Mục lục

Nếu đã từng gửi tiền tại ngân hàng hay có ý định vay vốn đầu tư hẳn là bạn đã từng nghe qua cụm từ “lãi suất chiết khấu”. Đây cũng chính là vấn đề mà hầu hết mọi người đều quan tâm khi đi vay vốn ngân hàng. Vậy lãi suất chiết khấu là gì? Làm thế nào để tính được lãi suất chiết khấu? Tác động của lãi suất chiết khấu đến các ngân hàng ra sao? Cùng tìm hiểu ngay trong bài viết dưới đây nhé!

1. Lãi suất chiết khấu là gì?

Lãi suất chiết khấu là một thuật ngữ rất phổ biến trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Đây chính là mức lãi suất mà Ngân hàng nhà nước hay còn gọi là Ngân hàng trung ương áp dụng khi cho vay đối với các ngân hàng thương mại để đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngắn hạn hoặc những nhu cầu bất thường từ các ngân hàng này.

Theo định nghĩa tại Khoản 11 Điều 3 Thông tư 150/2011/TT-BTC chỉ ra rõ về định nghĩa lãi suất chiết khấu là gì? - Cụ thể lãi suất chiết khấu được định nghĩa như sau: “Lãi suất chiết khấu” là tỷ lệ phần trăm (%) lãi hàng năm, được dùng làm căn cứ để xác định giá trái phiếu bị hoán đổi, giá trái phiếu được hoán đổi và tỷ lệ hoán đổi giữa trái phiếu bị hoán đổi và trái phiếu được hoán đổi”.

Hiểu một cách đơn giản thì lãi suất chiết khấu là một công cụ cần thiết trong chính sách tiền tệ. Khi tỷ lệ tiền mặt dự trữ của ngân hàng không thể đảm bảo an toàn thì lúc đó ngân hàng thương mại sẽ xem xét vay tiền tránh xảy ra tình huống khách hàng rút tiền. Nhờ đó mà các ngân hàng thương mại sẽ được vận hành trơn tru và tốt hơn.

2. Công thức tính lãi suất chiết khấu là gì?

Lãi suất chiết khấu có thể tính bằng chi phí huy động hoặc trung bình trọng chi phí vốn. Với mỗi cách tính ta có công thức áp dụng như sau:

2.1 Phí huy động vốn (Funding Cost)

Chi phí huy động vốn hay còn gọi là chi phí gọi vốn là tỷ lệ lợi tức mà người bỏ vốn mong muốn thu lại từ dự án. Nếu tính lãi suất chiết khấu dựa trên chi phí này ta có công thức:

Lãi suất chiết khấu = chi phí huy động vốn (Discount rate = funding cost)

Hay nói cách khác, lãi suất chiết khấu chính là chi phí sử dụng vốn, hay chi phí cơ hội của vốn.

Ví dụ: Nếu rút tiền tiết kiệm với lãi suất 3% để đầu tư thì có thể tính lãi suất chiết khấu = 3%.

Lãi suất chiết khấu là gì & Công thức tính lãi suất chiết khấu
Lãi suất chiết khấu là gì & Công thức tính lãi suất chiết khấu

2.2 Trung bình trọng chi phí vốn (Weighted Average Cost Of Capital, WACC)

Với cách tính dựa trên trung bình trọng chi phí có thể tính lãi suất chiết khấu như sau:

WACC = chi phí sử dụng vốn trung bình của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp có 2 nguồn gọi vốn chính:

Vay thương mại => chi phí của khoản nợ (cost of debt) là lãi suất của khoản vay (1-tax)*lãi suất; và,

Vốn góp cổ đông => chi phí vốn cổ phần (cost of equity) là thu nhập mong muốn của cổ đông.

WACC có thể tính bằng chi phí sử dụng trung bình của hai nguồn vốn trên.

WACC = re * E/(E+D) + rD(1-TC)* D/(E+D)

Trong đó:

re: tỷ suất thu nhập mong muốn của cổ đông

rD: lãi suất mong muốn của chủ nợ

E: giá thị trường cổ phần của công ty

D: giá thị trường nợ của công ty

TC: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

re = [Div0(1+g)/P0] + g

Trong đó:

P0 là giá cổ phiếu của doanh nghiệp tại thời điểm gốc

Div0 là cổ tức của cổ phiếu doanh nghiệp tại thời điểm gốc

g: tỷ lệ tăng trưởng dự kiến của cổ tức.

3. Sơ lược vài nét về nghiệp vụ liên quan đến lãi suất chiết khấu

Lãi suất chiết khấu được Ngân hàng trung ương sử dụng không chỉ với mục đích để kiểm soát cung ứng tiền tệ mà còn là nguồn hỗ trợ đắc lực giúp các ngân hàng thương mại hoạt động và vận hành trơn tru hơn.

Khi nguồn dự trữ tại các ngân hàng thương mại không đủ (có thể là do ngân hàng cho vay quá nhiều hoặc cùng lúc có nhiều khoản tiền được rút ra), ngân hàng buộc phải vay tiền từ ngân hàng trung ương. Lúc này ngân hàng trung ương cũng sẽ có nhiều nguồn dự trữ hơn và họ có thể tạo ra nhiều tiền hơn.

Phía Ngân hàng Trung ương cũng có thể điều chỉnh cung ứng tiền tệ thông qua việc thay đổi lãi suất chiết khấu. Lãi suất chiết khấu càng cao, các ngân hàng càng ít vay tiền của ngân hàng trung ương đề bù đắp dự trữ.

Đồng thời, để có thể hạn chế tình trạng thiếu hụt nguồn dự trữ trong khi ít vay tiền hơn từ ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại thường có xu hướng tăng tỷ lệ dự trữ và làm giảm số nhân tiền. Bởi vậy, biện pháp tăng lãi suất chiết khấu có xu hướng làm giảm cơ sở tiền và số nhân tiền, dẫn đến cung ứng tiền tệ giảm. 

Với biện pháp giảm lãi suất chiết khấu sẽ khuyến khích các ngân hàng vay nhiều tiền hơn từ ngân hàng trung ương và dự trữ với tỉ lệ thấp hơn, dẫn tới cơ sở tiền và số nhân tiền tăng và cung ứng tiền tệ tăng.

4. Các yếu tố tác động đến lãi suất chiết khấu là gì?

Lãi suất chiết khấu do Ngân hàng trung ương áp dụng. Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều yếu tố làm ảnh hưởng đến việc quyết định lãi suất chiết khấu. Vậy các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất chiết khấu là gì? - Cụ thể đó là các yếu tố sau:

4.1. Yếu tố lạm phát tác động đến lãi suất chiết khấu

Lạm phát được hiểu là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó. Khi làm phát xảy ra nó có khả năng làm ảnh hưởng xấu đến mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của một quốc gia. Trong đó tác động đầu tiên của lạm phát đó là tác động lên lãi suất bao gồm cả lãi suất chiết khấu.

Để khắc phục nền kinh tế suy thoái các Ngân hàng trung ương thường có xu hướng hạ thấp lãi suất để kích thích tăng trưởng tín dụng ở các ngân hàng thương mại (nới lỏng tiền tệ). Ngược lại để kiềm chế lạm phát các Ngân hàng trung ương thường nâng lãi suất chiết khấu để hạn chế khối lượng tín dụng đưa vào cung ứng cho nền kinh tế.

Tóm lại, khi lạm phát dự tính tăng thì lãi suất chiết khấu cũng tăng. Ngược lại lạm phát giảm thì lãi suất chiết khấu cũng giảm.

Những tác động đến lãi suất chiết khấu là gì?
Những tác động đến lãi suất chiết khấu là gì?

4.2. Mức cung cấp và nhu cầu về tiền tệ trên thị trường

Đây là một trong những yếu tố cơ bản và quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành lãi suất chiết khấu. 

Cung tiền tệ là tổng tiền tệ được sử dụng để giao dịch thanh toán trên thị trường. Chính phủ chính là nơi có quyền kiểm soát mức cung tiền tệ nhằm có những điều tiết cụ thể để tiền có giá trị. Còn cầu tiền tệ là nhu cầu về tiền tệ của cá nhân, đơn vị, tổ chức,... để làm phương tiện mua bán, trao đổi, giao dịch,...

Mối quan hệ giữa mức cung cầu tiền tệ và lãi suất chiết khấu là mối quan hệ tỉ lệ nghịch. Nếu mức cung tiền tệ tăng so với mức cầu tiền tệ thì lãi suất bị giảm và ngược lại.

4.3. Các rủi ro về kỳ hạn của tín dụng

Kỳ hạn của tín dụng ngắn hơn thường ít có nguy cơ vỡ nợ và tiếp xúc với lạm phát hơn so với các kỳ hạn của tín dụng dài hơn. Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến mức tăng giảm của lãi suất chiết khấu.

4.4. Các chính sách của chính phủ về tiền tệ

Mọi chính sách về tiền tệ của chính phủ đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến mức lãi suất chiết khấu bởi Chính phủ chính là nơi cung ứng tiền tế đồng thời các Ngân hàng Trung ương là nơi đóng vai trò thực hiện chỉ huy đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng của một quốc gia.

Với công cụ lãi suất, Nhà nước sẽ thực hiện các chính sách nhằm điều chỉnh và bình ổn nền kinh tế. Lãi suất tăng sẽ làm cho nhu cầu tiêu dùng và đầu tư giảm, khi đó Ngân hàng Trung ương sẽ tiến hành giảm lãi suất chiết khấu cho các ngân hàng thương mại và ngược lại.

5. Những tác động của lãi suất chiết khấu là gì?

Lãi suất chiết khấu thực chất là một công cụ trong chính sách tiền tệ và có tác động qua lại đến cả hai Ngân hàng Trung ương và ngân hàng thương mại. Cụ thể:

5.1. Ảnh hưởng đến Ngân hàng Trung Ương

Lãi suất chiết khấu là một công cụ đắc lực của Ngân hàng nhà nước và nó cũng có những ảnh hưởng trở lại nhất định đối với ngân hàng này. 

Với một lượng tiền cơ sở, bằng cách quy định lãi suất chiết khấu, Ngân hàng Trung ương không chỉ kiểm soát được nguồn cung ứng tiền tệ hiệu quả mà còn hỗ trợ các tổ chức tài chính khi họ rơi vào khó khăn.

Đồng thời, với việc áp dụng lãi suất chiết khấu cao hơn lãi suất thị trường, ngân hàng trung ương có thể buộc các ngân hàng thương mại phải tăng dự trữ tiền mặt khiến cho số nhân tiền tệ giảm xuống để giảm mức cung tiền tệ. Ngược lại, khi lãi suất chiết khấu giảm xuống thì các ngân hàng thương mại có thể giảm tỷ lệ dự trữ tiền mặt và do vậy số nhân tiền tệ tăng lên dẫn đến tăng lượng cung tiền.

5.2. Ảnh hưởng đến ngân hàng Thương mại

Mức lãi suất chiết khấu do Ngân hàng Trung ương quy định và áp dụng đối với đối tượng là các ngân hàng thương mại nên tác động của lãi suất này đối với các ngân hàng thương mại là rất lớn.

Cụ thể, lãi suất chiết khấu có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ dự trữ tiền mặt trong các ngân hàng thương mại. Đây chính là căn cứ quan trọng để các ngân hàng thương mại có thể đưa ra quyết định tăng hay giảm mức tỷ lệ tiền mặt dự trữ. Nếu mức lãi suất chiết khấu cao hơn với lãi suất thị trường thì ngân hàng thương mại có xu hướng tăng tỷ lệ tiền mặt dự trữ để hạn chế rủi ro khi khách hàng rút tiền. Ngược lại, lãi suất chiết khấu thấp thì ngân hàng thương mại có xu hướng giảm tỷ lệ dự trữ và chỉ cần dừng lại ở mức tỷ lệ tối thiểu an toàn.

Như vậy qua bài viết trên chúng tôi đã giúp các bạn giải đáp thắc mắc lãi suất chiết khấu là gì? Công thức tính lãi suất chiết khấu như nào và tác động của lãi suất chiết khấu đối với cả ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại. Hy vọng bài viết trên mang đến những thông tin thực sự hữu ích.

NGUỒN: CITINEWS.NET

Bài viết liên quan

Bài viết mới nhất