Địa chí An Giang: Hy vọng sẽ được hoàn thiện

11-11-2013 20:52 - Theo: phunuonline.com.vn

Sau khi Báo Phụ Nữ đăng bài Địa chí An Giang: Thất kinh với công trình “kinh điển”, tòa soạn nhận được phản hồi của thành viên Ban biên tập Địa chí An Giang (ĐCAG) cho rằng bài báo phản ánh chưa chính xác vì tác giả bài viết không đọc kỹ Lời nói đầu. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vấn đề không phải như vậy.

>> Kỳ thú đua bò Bảy Núi
>> Làn gió mới cho người yêu nhạc
>> Mở rộng Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng
>> Nói lại cho rõ về bài báo Địa chí An Giang

Lời nói đầu viết: "Về mặt thời gian, ĐCAG chủ yếu bao quát các sự kiện từ năm 1832 - cái mốc quan trọng đánh dấu sự ra đời của tỉnh An Giang - đến năm 2000. Phần phụ lục (hoặc một số mục mang tính chất phụ lục) sẽ ghi nhận các sự kiện diễn ra đến năm 2010" (tr.8). Tuy nhiên, điển hình là trường hợp địa danh hành chính thị xã Tân Châu (được công nhận vào năm 2009), ở mục giới thiệu "địa lý hành chính" vẫn giữ nguyên tên huyện Tân Châu (tr.83). Ở phần phụ lục (19 mục), hầu như không cập nhật thông tin diễn ra trước thời điểm 2010. Ví dụ, ĐCAG vẫn ghi cụm Di tích núi Sam thuộc xã Vĩnh Tế (tr.951), dù từ tháng 3/2002, nơi đây đã trở thành phường Núi Sam; ĐCAG viết "Khu chứng tích tội ác diệt chủng Pôn-pốt thuộc xã Ba Chúc" (tr.964) dù từ tháng 10/2003, Ba Chúc đã là thị trấn. Đó là chưa kể đến nạn cập nhật sai địa danh tọa lạc Thánh đường Mubarak (Chăm). Nếu ở trang 857 ghi thuộc xã Châu Giang thì đến trang 970 lại ghi là phường Long Sơn (thị xã Tân Châu). Thực tế, thánh đường nằm bên sông Hậu, còn Long Sơn nằm bên sông Tiền, tức cách nhau đến hàng chục cây số. Mặt khác, Châu Giang là xã của huyện Phú Tân, sau ngày 25/4/1979 đổi thành xã Phú Hiệp, nên xã Châu Giang không thể thuộc thị xã Tân Châu…

Trong khi đó, bố cục chung lại có nhiều điểm đáng bàn. Trong cấu trúc của phần Văn hóa-xã hội, vắng đề mục cho lĩnh vực thể dục-thể thao. Và nhiều mục khác thì lại sắp xếp không theo hệ thống nhất quán, khiến người đọc rất khó tra cứu. Thí dụ như mục về kiến trúc (tr.639), chỉ giới thiệu năm loại hình: đình, chùa, miếu, nhà và mồ, còn nhiều loại hình kiến trúc độc đáo khác, như: "tiền miếu, hậu tự" thì được đề cập trong nội dung nói về đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (tr.802), hay Đền tưởng niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng ở Mỹ Hòa Hưng (Long Xuyên) thì lại nằm trong phần nói về di tích Nhà lưu niệm thời niên thiếu Chủ tịch Tôn Đức Thắng (tr.961)… Tương tự, ở mục âm nhạc (tr.650) thì vắng phần dân tộc Chăm và dân tộc Hoa. Trong khi đó, ở nội dung nhạc truyền thống Khmer lại có sự nhầm lẫn khái niệm "loại hình nhạc khí" và tổ chức dàn nhạc đối. "Về khí nhạc có hai dàn nhạc chính: dàn nhạc ngũ âm và dàn nhạc dây" (tr.654). Theo nhà nghiên cứu Sơn Ngọc Hoàng và cộng sự, trong công trình Nhạc khí dân tộc Khmer Nam bộ thì dàn nhạc dây hay nhạc khí dây chỉ là một trong bốn bộ nhạc khí cơ bản của người Khmer, gồm: nhạc khí dây, nhạc khí hơi, nhạc khí màng rung và nhạc khí tự thân vang. Còn dàn nhạc "ngũ âm" (được tạo thành bởi năm loại chất liệu: đồng, sắt, gỗ, da, hơi) là một trong chín tổ chức dàn nhạc truyền thống: Mô-hô-ri; Khlo-khech…

Ở mục văn học-nghệ thuật cũng mất cân đối giữa các thể tài. Trong phần văn học, chỉ nhìn nhận, đánh giá hoạt động sáng tác văn xuôi, thơ và trường ca, sưu khảo… không có loại hình nghiên cứu, phê bình, lý luận. Và cũng không thấy đề cập đến phần "ngữ" vốn được xem là đặc sản của An Giang bởi sự kết tinh từ bốn dân tộc cộng cư. Thậm chí, việc sắp xếp các cây bút tiêu biểu trong giai đoạn 1954-1975, cũng không theo quy tắc năm sinh, năm mất hay alphabet. Thí dụ, Nguyễn Văn Kiềm (1911-1989), Nguyễn Hiến Lê (1912-1984), Nguyễn Văn Hầu (1922-1995) thì được xếp sau Anh Đức (5/5/1935); Nguyễn Quang Sáng (12/1/1932); Mai Văn Tạo (1924-2002); Viễn Phương (1928-2005); Lê Văn Thảo (1/10/1939)…

Hy vọng những sai sót nhỏ so với công trình có quy mô như ĐCAG sẽ được bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện trong lần tái bản.

 Tùng Hương