Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập suốt đời

25-03-2013 21:36 - Theo: baocantho.com.vn

Qua nghiên cứu Dự thảo sửa đổi Hiến pháp (DTSĐHP) năm 1992, tôi xin có một vài ý kiến đóng góp như sau.

>> Góp ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992
>> Sửa đổi Hiến pháp: Phát triển giáo dục và đào tạo
>> Hiến định mới về "quyền văn hóa" của con người (Bài 1)
>> Phát triển giáo dục: Phải lường trước "kẽ hở"

* Các vấn đề về văn hóa

Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là yêu cầu sống còn của một dân tộc, của nền văn hóa dân tộc ấy. Cho nên mọi thành viên thuộc một cộng đồng văn hóa đều phải có trách nhiệm bảo tồn và phát huy nó. Dĩ nhiên, các điều, khoản trong DTSĐHP toát lên yêu cầu này. Song, tại khoản 2 Điều 19 lại chỉ đề cập trực tiếp vấn đề này đối với kiều bào nước ngoài. Mặt khác, một người Việt định cư ở nước ngoài nếu không có liên hệ thường xuyên với người trong nước thì việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc sẽ gặp khó khăn. Đề nghị bổ sung: "Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài cùng với đồng bào trong nước giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam…".

Tại Điều 44 quy định quyền hưởng thụ, tham gia, tiếp cận các giá trị văn hóa. Còn một quyền rất quan trọng là quyền được sáng tạo văn hóa, hay nói cụ thể hơn là quyền được sáng tạo ra những đơn vị góp vào nền văn hóa. Sáng tạo trên nền tảng kế thừa truyền thống và tiếp thu tinh hoa của các nền văn hóa khác. Đây là quy luật phát triển văn hóa. Đề nghị bổ sung nhóm từ "quyền sáng tạo văn hóa" vào Điều 44.

Còn ở khoản 1, Điều 64, DTSĐHP đề cập đến chức năng "tổ chức xã hội" và chức năng "động lực phát triển xã hội" của văn hóa. Do văn hóa bao trùm lên mọi hoạt động của con người nên nó có chức năng tổ chức và trở thành nền tảng tinh thần của xã hội. Văn hóa có tính giá trị. Xét giá trị theo thời gian, các hiện tượng văn hóa có cái lỗi thời, cái hiện thời và cái đang hình thành. Quá trình xem xét này giúp con người điều chỉnh các ứng xử, định hướng hành động, chính vì vậy tạo ra động lực cho sự phát triển xã hội trong trạng thái cân bằng. Tại khoản 1 Điều 64, có nhóm từ "phát triển của đất nước", chúng tôi thấy không cần thiết, đề nghị viết gọn lại như: "Văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực phát triển của xã hội".

* Các vấn đề về giáo dục:

Vấn đề giáo dục chủ yếu được đề cập tại Chương II và III của DTSĐHP năm 1992, cụ thể: Trẻ em có quyền được gia đình, nhà trường, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục (khoản 1 Điều 40); Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập (Điều 42); Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu (Điều 65); Nhà nước quản lý giáo dục, tạo điều kiện học tập cho người khuyết tật (Điều 66).

Về mục tiêu giáo dục (khoản 1, Điều 66), DTSĐHP chủ yếu hướng tới xây dựng, bồi dưỡng công dân có tri thức và năng lực để phục vụ xã hội, Tổ quốc. Do vậy, cần bổ sung nhấn mạnh mục tiêu dạy đạo đức hay nói cách khác là dạy làm người. Ngoài ra, thông tin phản hồi từ các nơi sử dụng lao động những năm gần đây cho thấy, sinh viên ra trường tuy có kiến thức chuyên ngành, nhưng hiệu quả làm việc của họ không cao. Nguyên nhân là do họ thiếu kiến thức xã hội, để có thể hòa nhập với cộng đồng. Do vậy, cần chú ý mục tiêu đào tạo cụ thể hơn là đào tạo công dân vừa có năng lực chuyên môn, vừa có vốn hiểu biết về đời sống xã hội.

Tại Điều 42 quyền và nghĩa vụ học tập của công dân, theo tôi  nên bổ sung như sau: "Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập suốt đời". Nhu cầu học tập suốt đời là một nhu cầu thực tế đối với một đất nước phát triển, xã hội văn minh. Người hết tuổi lao động vẫn có nhu cầu mở rộng kiến thức, nâng cao trình độ, để có thể bắt kịp nhịp tiến bộ của cuộc sống; từ đó, có thể tham gia các tổ chức ngoài công lập, tiếp tục cống hiến cho cộng đồng. Khoản 2 Điều 66 Dự thảo đề cập đến việc quản lý giáo dục, đầu tư giáo dục… mà chưa có những từ nói về đội ngũ các nhà giáo, nhân tố quan trọng làm nên thành công của nền giáo dục. Thêm vào đó, một khi phát triển giáo dục được khẳng định là quốc sách hàng đầu thì đội ngũ này phải được đầu tư đúng tầm của nó. Đề nghị thêm một khoản trong Điều 66 về "chính sách đãi ngộ đối với nhà giáo", "Nhà nước có chiến lược xây dựng đội ngũ nhà giáo".

Những năm gần đây, hệ thống trường ngoài công lập phát triển nhanh ở tất cả các cấp học. Trước mắt, chất lượng đào tạo của hệ thống các trường này ở từng cấp học có khác nhau. Chẳng hạn, các trường mẫu giáo tư thục được đánh giá là xuất hiện kịp thời, giải quyết tình trạng quá tải của trường công và chất lượng nuôi dạy trẻ khá tốt. Ngược lại hầu hết các trường đại học dân lập đều bị xếp vào nhóm chất lượng đào tạo kém. Nhưng dù sao thì sự tồn tại của hệ thống trường ngoài công lập là thực tế và là xu thế phát triển. Tại khoản 2 Điều 66 Dự thảo nhóm từ "…ưu tiên đầu tư và tạo điều kiện thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục", vẫn chưa nói rõ về sự tồn tại của trường ngoài công lập. Đề nghị đưa thêm nhóm từ "phát triển hai hình thức đào tạo công lập và ngoài công lập".