TS. Đỗ Ngân Bình: Bộ luật Lao động cần được hướng dẫn cụ thể, chi tiết

15-11-2013 08:49 - Theo: laodong.com.vn

Trao đổi với PV Báo Lao Động về những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện của Bộ luật Lao động 2012, TS. Đỗ Ngân Bình - Phó Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật, Trường ĐH Luật Hà Nội cho biết.

>> Trả lời pháp luật
>> Chế độ BHXH với NLĐ cao tuổi khi giao kết HĐLĐ mới
>> Nghỉ dưỡng sinh, BHXH áp dụng tạm thời theo mức cũ
>> Vi phạm quyền lợi chính đáng của người lao động

Điều 242 Bộ luật Lao động 2012 (BLLĐ) quy định: "Chính phủ, cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Bộ luật". Theo đó, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền chỉ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, các khoản đã được giao trong Bộ luật Lao động 2012.

Thực tế, ở thời điểm hiện tại, mới chỉ có 18/242 Điều của BLLĐ 2012  được hướng dẫn trong 13 Nghị định đã ban hành (tính đến ngày 14.11.2013). Các điều, khoản không được giao (không có nội dung "Chính phủ quy định"), Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền không có trách nhiệm hướng dẫn.

Trong khi đó, các Nghị định đã được ban hành và dự kiến ban hành lại chưa giải quyết được hết các vấn đề còn đang vướng mắc của BLLĐ 2012. Với các  điều luật của BLLĐ 2012 không được giao cho Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thì Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền không có cơ sở để ban hành Nghị định  quy định chi tiết thi hành.

Như vậy, đối với các điều luật không rõ ràng này phải chờ Chính phủ ban hành Nghị định quy định các biện pháp cụ thể để thực hiện một số điều của BLLĐ 2012 (theo Khoản 2 Điều 14 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật) dự kiến gọi là "Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của BLLĐ về hợp đồng lao động, tiền lương, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất và giải quyết tranh chấp lao động".

Nhìn chung, BLLĐ cần được hướng dẫn cụ thể, chi tiết, tạo cơ sở để thi hành trên thực tế.

Theo TS Đỗ Ngân Bình, một số điểm bất cập cơ bản của Bộ luật Lao động 2012 có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động và hoạt động của tổ chức CĐ là về trường hợp chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại Khoản 4 Điều 36 BLLĐ 2012.

Khoản 4 Điều 36 BLLĐ 2012 quy định: "Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này".

Theo quy định này, HĐLĐ chấm dứt khi NLĐ đủ hai điều kiện là: Điều kiện về thời gian đóng BHXH và điều kiện về tuổi hưởng lương hưu. Quy định "hưởng lương hưu" không rõ là "hưởng lương hưu hàng tháng" hay "hưởng lương hưu một lần" nên dẫn đến nhiều vướng mắc trong thực tiễn và nhiều cách hiểu khác nhau.

Để giải quyết vướng mắc trên đây, theo quan điểm của TS Đỗ Ngân Bình, "Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của BLLĐ về HĐLĐ, tiền lương, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất và giải quyết tranh chấp lao động" có thể được ban hành sắp tới đây (trên cơ sở vận dụng khoản 2 Điều 14 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật về việc cho phép Chính phủ…), các nhà làm luật cần quy định rõ: chỉ được chấm dứt hợp đồng lao động khi đảm bảo cần và đủ 2 điều kiện sau đây: i) NLĐ đủ điều kiện về thời gian đóng BHXH để hưởng lương hưu hàng tháng; ii) NLĐ đủ điều kiện về độ tuổi để hưởng lương hưu hàng tháng. Quy định như vậy mới đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.

Về tiền lương quy định tại Điều 90 BLLĐ 2012. Khoản 1 Điều 90 BLLĐ 2012 quy định: "Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác". Theo đó, tiền lương của NLĐ bao gồm: i) Tiền lương theo công việc hoặc chức danh; ii) Phụ cấp lương; iii) Các khoản bổ sung khác.

Tuy nhiên, hiểu thế nào là "phụ cấp lương" và "các khoản bổ sung khác" thì hiện nay chưa được quy định, hướng dẫn cụ thể trong Nghị định 49/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương nên không xác định được "phụ cấp lương" và "các khoản bổ sung khác" bao gồm các khoản nào. Quy định này dẫn đến hai vướng mắc liên quan đến tiền lương đóng bảo hiểm xã hội và kinh phí công đoàn.

Về tiền lương đóng BHXH. Theo Khoản 2 Điều 94 Luật Bảo hiểm xã hội 2006: "Đối với NLĐ đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức tiền lương, tiền công ghi trong HĐLĐ".

Theo đó, tiền lương để đóng BHXH bao gồm cả tiền lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác - là những khoản chưa được quy định rõ ràng dẫn đến tính khả thi trên thực tế thấp.

Về kinh phí công đoàn. Khoản 2 Điều 26 Luật Công đoàn quy định: "2. Kinh phí công đoàn do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ðóng bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho NLÐ". Theo đó, kinh phí công đoàn được trích nộp dựa trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, mà quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH chưa được xác định rõ ràng do chưa làm rõ dược "phụ cấp lương" và "các khoản bổ sung khác" bao gồm các khoản tiền nào.

Do đó, theo quan điểm của TS Đỗ Ngân Bình, quy định này cần phải được hướng dẫn cụ định trong "Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ Luật lao động về hợp đồng lao động, tiền lương, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất và giải quyết tranh chấp lao động" có thể được ban hành sắp tới đây (trên cơ sở vận dụng khoản 2 Điều 14 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật về việc cho phép Chính phủ…).