Lấy biển và đại dương nuôi đất liền

08-01-2014 10:57 - Theo: bienphong.com.vn

>> Kế hoạch triển khai kết luận 28 của Bộ chính trị về phát triển vùng ĐBSCL
>> Đề án tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng đến năm 2020, định hướng đến năm 2025
>> Nhận diện khó khăn mở rộng không gian phát triển
>> Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động nông dân

TS Nguyễn Tác An.
PV: Dưới góc nhìn của một nhà khoa học, ông đánh giá như thế nào về tiềm năng kinh tế biển của Việt Nam?

TS Nguyễn Tác An: Kết quả nghiên cứu về hải dương học ở Biển Đông trong gần 100 năm qua đã khẳng định, biển Việt Nam có điều kiện tự nhiên tuyệt vời, đặc biệt cho sự phát triển kinh tế và xã hội (KT-XH). Đó chính là các giá trị về mặt "địa chính trị" và "địa kinh tế".

PV: Ông đánh giá thế nào về hiệu quả khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên biển của Việt Nam?

TS Nguyễn Tác An: Hơn ngàn năm nay, người Việt Nam vốn quen làm ăn, sử dụng, khai thác các vùng biển tự do, phụ thuộc vào sở thích, thói quen và tiềm lực của bản thân. Hệ lụy là sử dụng không gian biển không hiệu quả, gây nhiều lãng phí tài nguyên thiên nhiên, làm suy thoái môi trường, nguồn lợi thủy sản, đa dạng sinh học, gây nhiều mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ ngư dân và giữa các ngành nghề biển khác nhau...

Trên thế giới, hằng năm, người ta có thể khai thác từ diện tích 1km2 mặt biển ven bờ với doanh thu khoảng 50-100 nghìn đô-la Mỹ, thậm chí như ở Xin-ga-po, doanh thu đến 27 triệu đô-la Mỹ. Còn ở Việt Nam, doanh thu từ biển rất thấp, chưa đến 10 nghìn đô-la Mỹ, phổ biến là 1-3 nghìn đô-la. Thực tế ở Việt Nam và cũng là nghịch lý lớn là vùng biển, đảo giàu có tài nguyên, nhưng lại được xếp vào "vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, có nhiều hộ dân nghèo".

PV: Theo ông, nguyên nhân của tình trạng trên có phải do những bất cập trong việc quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên biển hiện nay?

TS Nguyễn Tác An: Trong phát triển và quản lý biển, đảo ở Việt Nam, chúng ta bị "tư duy đất liền" (mở rộng nền kinh tế "nông nghiệp lục địa" ra không gian Biển Đông) chi phối nên rất phân tán các nguồn lực và không hiệu quả so với tiềm năng và so với các nước trong khu vực. Thực tế hiện nay, kinh tế biển Việt Nam còn thua xa các nước trên thế giới. Tất nhiên, có rất nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan trong quá trình phát triển kinh tế, nhưng tựu trung, nguyên nhân chính vẫn là tư duy kinh tế và phương thức quản lý.

PV: Nếu là do tư duy và phương thức quản lý thì Việt Nam sẽ phải đổi mới tư duy trong việc quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên biển theo hướng nào thưa ông?

TS Nguyễn Tác An: Xu thế hiện nay của nhân loại là "lấy biển và đại dương nuôi đất liền" ngược lại với xu thế đã qua, đất liền phải nuôi biển nên các quốc gia có biển đều coi trọng vấn đề chủ quyền và quyền chủ quyền trên biển. Các nước tăng cường mở rộng quyền tài phán trong quản lý không gian biển, đảo và đại dương. Thực tế hiện nay, đã có hơn 40% diện tích biển đã được các quốc gia ven biển chủ quyền hóa, so với chưa đến 5% vùng biển có chủ quyền quốc gia vào những năm 1911.

Theo tôi, Nhà nước phải thống nhất quản lý biển, đảo và vùng ven bờ trên cơ sở quy hoạch không gian, phân vùng chức năng: Vùng khai thác sử dụng, phát triển kinh tế, vùng an sinh xã hội, vùng bảo tồn và vùng dự trữ... Đặc biệt, ở vùng ven bờ biển, trong không gian, từ mép nước ra khoảng 30-50m về hướng biển và từ mép nước, hướng vào đất liền khoảng 50-200m là vùng an sinh xã hội. Vùng này là nơi phát triển công cộng của cộng đồng, không cho phép các hoạt động vụ lợi và xây dựng các công trình vĩnh cửu có tác động đến cảnh quan. Nhà nước sử dụng ngân sách và vận động các nguồn tài chính thân thiện, có nguồn gốc rõ ràng, để tạo dựng, phát triển các điều kiện sinh thái, cảnh quan tự nhiên, các giá trị văn hoá, tâm linh. Phát huy tối đa các lợi ích giá trị chức năng, dịch vụ của hệ bờ biển nhằm phục vụ cho lợi ích của cộng đồng, bảo vệ an ninh sinh thái đới bờ và quốc phòng. Khai thác biển, đảo, nhất là vùng ven biển là hoạt động phát triển nhạy cảm, phải được công khai, minh bạch để có sự đồng thuận và nhất trí về mặt xã hội.

PV: Chính phủ có chủ trương giao quyền cho cá nhân khai thác tài nguyên biển, theo ông, việc này sẽ mang lại những lợi ích và hệ lụy nào cho sự phát triển kinh tế biển?

TS Nguyễn Tác An: Lợi ích và hiệu quả là khắc phục những bất cập, không kết quả trong quá trình khai thác, sử dụng vùng biển, đảo như đã nêu trên. Nó cũng hỗ trợ thiết thực và hiệu quả cho công tác bảo tồn biển ở các quy mô nhỏ, nhất là bảo tồn nguồn giống, ngư trường, đa dạng sinh học ở các địa phương ven biển, đảo. Lợi ích khác là hòa nhập được với xu thế phổ biến ở trên thế giới và phù hợp với thời đại. Hệ lụy cũng không ít, rõ nhất là do tính "thị trường" chi phối và chỉ đạo, chạy theo lợi nhuận, sẽ dẫn đến những "xáo trộn" về mặt xã hội, kinh tế, môi trường ở vùng biển, đảo. Nhưng bài học của các nước cho thấy, lợi ích và hệ lụy của việc giao chủ quyền mặt nước biển, đảo cho các doanh nghiêp, các tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác hoàn toàn phụ thuộc vào các chính sách và phương thức quản lý của Nhà nước, của chính quyền địa phương. Có thể nói, "việc này là Nhà nước nắm đằng chuôi", do đó, trước khi vận hành chính sách này vào thực tế, Nhà nước phải chuẩn bị thật kỹ càng và đầy đủ để các chính sách có tính khả thi và có sức sống trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính sách phải được xây dựng trên những cơ sở khoa học và kinh tế, xã hội, sát với thực tế của Việt Nam và bối cảnh phát triển kinh tế của thế giới, vì lợi ích của quốc gia, của cộng đồng, không vướng víu đến lợi ích nhóm. Phải có lộ trình thực hiện rõ ràng, công khai và minh bạch.

PV: Vậy làm thế nào để khai thác tối đa tài nguyên biển nhưng vẫn đảm bảo phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học, thưa ông?

TS Nguyễn Tác An: Đây là vấn đề khó và dài hơi, nhưng qua nghiên cứu các bài học quản lý và phát triển biển thành công của nhiều quốc gia, tôi thấy Nhà nước cần tăng cường công tác quản lý, đặc biệt là việc xác định đa mục tiêu, hoạch định các chính sách và nỗ lực của bộ máy điều hành, phòng tránh các nguy cơ "bóp méo" các quy định vì lợi ích nhóm; đồng thời, cần  tập trung xây dựng các cơ chế tăng cường hiệu quả các nguồn lực đầu tư của nền kinh tế thị trường, tuân theo quy luật cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, khuyến khích sự tham gia tối đa của mọi thành phần kinh tế dựa vào công nghệ cao, nguồn nhân lực có trình độ, tay nghề cao và hội nhập quốc tế. Cần ưu tiên tổ chức việc quy hoạch, phân vùng sử dụng không gian biển, đảo hợp lý, khả thi và phù hợp với thực tế của từng địa phương ven biển. Đặc biệt, trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam hiện nay, quy hoạch, phân vùng sử dụng tài nguyên không gian, nhất là không gian biển, đảo và ven biển còn là vấn đề  "nhạy cảm" và "nóng" vì có liên quan đến quyền "sở hữu", đến lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng và cá nhân, do đó, cần phải nghiên cứu, tính toán kỹ càng và công khai để tạo lòng tin và sự đồng thuận về mặt xã hội. Trước mắt, Nhà nước nên chuẩn bị kỹ càng, thận trọng và ban hành nghị định, quy định việc giao các khu vực biển cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển, coi đây là một trong những tiền đề quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết  số 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 "Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020". 

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!