Cơ chế lạm phát mục tiêu

10-04-2013 08:12 - Theo: doanhnhansaigon.vn

Về lý thuyết, tăng tưởng, lạm phát, cán cân thanh toán, thất nghiệp là những yếu tố có thể ảnh hưởng tới cân đối của nền kinh tế, trong đó, yếu tố lạm phát được quan tâm hàng đầu ở bất kỳ quốc gia nào.

>> Ưu tiên kiềm chế lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng
>> Ổn định vĩ mô - nền tảng chống đôla hóa
>> 9 nhóm giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng
>> Để nền kinh tế thoát khỏi “ma trận”

Việt Nam đã phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao trong nhiều năm so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu (LPMT) nhằm kiềm chế lạm phát cao, đưa tỷ lệ lạm phát về một con số trong trung hạn và dưới 7% sau năm 2015 là hoàn toàn cần thiết.

Theo đuổi LPMT không chỉ kiểm soát lạm phát thực tế ở mức đề ra mà còn cho phép tập trung tăng trưởng kinh tế bền vững, phù hợp với mức tăng trưởng tiềm năng cũng như xác định chính sách tiền tệ phù hợp và tạo niềm tin cho công chúng.

Chính vì vậy, sau khi hoàn thành quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường, Cộng hòa Séc, Ba Lan, Hungary, Nam Phi, Indonesia, Thái Lan... đã chuyển sang cơ chế điều hành theo LPMT nhằm đối chọi với lạm phát cao.

Về lý thuyết, cơ chế LPMT là chính sách mà ngân hàng trung ương đưa ra trong thời gian trung hạn, thường là 5 năm và được quyền chủ động sử dụng các công cụ, chính sách tiền tệ như nghiệp vụ thị trường mở, công cụ lãi suất, tỷ giá...

Tuy nhiên, LPMT không phải là liều thuốc chữa bách bệnh của một nền kinh tế đang phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao. Một chính sách theo đuổi LPMT chỉ thành công khi lạm phát thực tế xoay quanh mức mục tiêu đề ra.

Áp dụng cơ chế LPMT tại Việt Nam, Chính phủ, cần xác định mục tiêu, quyền tự chủ và chịu trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Theo Điều 4, Luật NHNN năm 2010, mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền.

Nhưng để đạt được mục tiêu này, Quốc hội và Chính phủ cần có cơ chế và tạo điều kiện cho NHNN độc lập trong xây dựng, thực thi chính sách tiền tệ cũng như tăng cường quyền hạn về quản lý nhà nước về tiền tệ cho NHNN để có đủ sức mạnh và khả năng điều tiết các kênh truyền dẫn tiền tệ, đặc biệt là kênh bơm, hút tiền.

NHNN cần phối hợp với các tổ chức, cơ quan chức năng, như: Tổng cục thống kê, Quỹ Tiền tệ Quốc tế nghiên cứu phương pháp ước tính lạm phát cơ bản, xây dựng mô hình dự báo hàm cầu tiền, cơ chế truyền dẫn tiền tệ... phù hợp với chuẩn mực quốc tế và điều kiện của Việt Nam.

Tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng, NHNN nên theo hướng nâng cao năng lực quản trị rủi ro, kỹ năng quản trị điều hành, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng các tổ chức tín dụng.

Bên cạnh đó, nâng cao năng lực thanh tra, giám sát của NHNN, đặc biệt là giám sát từ xa theo các chuẩn mực quốc tế. NHNN cần nâng cao tính minh bạch trong điều hành chính sách tiền tệ, công khai công tác điều hành chính sách tiền tệ, các báo báo về lạm phát...

Chính phủ, NHNN cần ngăn chặn tình trạng đô la hóa và từng bước xóa bỏ tình trạng giao dịch bằng ngoại tệ trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, từng bước hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công cụ lãi suất trong điều hành chính sách tiền tệ, tạo môi trường cho lãi suất điều hành có tác động thực tới lãi suất trên thị trường phù hợp với xu thế hội nhập và cơ chế điều hành chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu.

Việt Nam đã trải qua một thời gian đối mặt với tình trạng thâm hụt ngân sách ở mức cao, duy trì ở mức 6-7% trong nhiều năm. Do đó, Chính phủ cần có các biện pháp thu hẹp các khoản chi tiêu cũng như nâng cao hiệu quả chi tiêu của Chính phủ.

Bên cạnh đó, Chính phủ cần xây dựng các nguyên tắc chính sách tài khóa không gây ảnh hưởng tới chính sách tiền tệ và từ bỏ nguyên tắc "ngân sách chi phối".

Chính phủ và NHNN cân nhắc và thực hiện lộ trình điều hành chính sách tiền tệ theo ba bước.

Một là, sử dụng LPMT như một liều thuốc để chống lạm phát với độ dài 12-24 tháng, thời gian đủ để đưa lạm phát xuống 1 con số.

Hai là, đề ra mức LPMT ngắn hạn cho từng năm. Theo đó, giai đoạn 2014-2015, tỷ lệ LPMT nên ở ngưỡng 6-7%/năm là phù hợp với đặc điểm nền kinh tế Việt Nam. Đây là mức lạm phát cho phép Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 6-6,5%/năm trong giai đoạn này.

Ba là, đưa ra mức LPMT phù hợp, có lợi cho nền kinh tế trong trung hạn, giai đoạn 2015 -2020. Chỉ số này được duy trì không đổi hằng năm trong khoảng thời gian trung hạn là 5 năm, theo đó, mức LPMT trong giai đoạn 2015-2020 nên 5 hoặc 6% với biên độ giao động cộng, trừ 1 là phù hợp.
Xem thêm các tin về: Cơ chế lạm phát mục tiêu